Hãy đăng ký thành viên để trao đổi, giao lưu số học.

Hàn Nha Kiếp

Thảo luận trong 'Chuyện lạ đó đây' bắt đầu bởi nhat^chi^mai, 16/4/16.

Lượt xem: 94

  1. nhat^chi^mai

    nhat^chi^mai Điều hành viên

    Tham gia:
    12/11/14
    Bài viết:
    1,274
    Được thích:
    0
    HÀN NHA KIẾP

    Chương 4: Sinh như hạ hoa

    Tác giả: Thịnh Nhan

    Người dịch: Michelle Yip

    Người cô đơn, sẽ cho rằng thời gian là hoang mạc, vĩnh viễn không thể vượt qua. Người đang yêu, luôn cho rằng thời gian như dòng nước, dù lưu luyến cũng không thể níu giữ. Nhưng vị thần điều khiển mặt trời, quản lí bốn mùa, chưa từng dừng lại, cũng chưa từng tăng tốc bước chân lãnh khốc của ngài.

    Mùa hè sắp đến.

    Buổi chiều tịch mịch, trong Hoa Vũ đình viện, Từ Huy Dạ đã say đến mười phần. Hắn tựa vào ghế mềm, tay trái nâng chung rượu, tay phải cầm kiếm, chậm rãi vẩy kiếm. Kiếm quang như dải lụa trắng tung bay, những cánh hồng rơi rụng như trận mưa hoa.

    Liên Tú Nhân mang băng vải và kim sang dược tiến tới, giúp Từ Huy Dạ thay thuốc. Hắn không chịu phối hợp, vừa lắc đầu vừa hỏi:

    “Nàng ấy và Triệu Phù Phong ra ngoài rồi sao?”

    Liên Tú Nhân trầm giọng đáp:

    “Phải, tiểu thư muốn mua quần áo, Triệu công tử theo người ra phố.”

    Tay Từ Huy Dạ đột nhiên co lại, khẩu khí nhẹ hẫng:

    “Thì ra nàng vẫn còn biết nói chuyện. Ta cứ tưởng nàng bị câm.”

    Liên Tú Nhân miễn cưỡng thở dài một hơi, vén ống tay áo hắn, chỉ thấy vết thương đã đóng vẩy lại hở miệng. Nàng cắn môi:

    “Công tử nếu cứ hành hạ thân mình, dù ta ngày ngày đến thay thuốc, chỉ là uổng công.”

    Từ Huy Dạ xoa lên má nàng, khẩy nhẹ khuyên tai:

    “Sao, nàng đau lòng hả?”

    Liên Tú Nhân không ngờ hắn say rồi lại khinh bạc như thế, đứng dậy nói:

    “Mong công tử tự trọng. Nếu chẳng phải tiểu thư dặn dò ta chiếu cố người, ta đã không …”

    Lời nói chưa dứt đột nhiên ngừng lại. Hắn vươn tay kéo một cái, nàng đứng chưa vững, ngã vào người hắn. Cảm giác được vết thương của hắn lại rỉ máu, nàng không dám né tránh, khẩn cầu:

    “Công tử, thương tích của người …”

    Hai mắt Từ Huy Dạ đỏ lựng, tràn ngập tia máu, nắn cằm nàng thốt:

    “Hừm, nữ nhân khẩu thị tâm phi, là tự nàng muốn quan tâm ta đó.”

    “Phải thì sao?”

    Nàng đỏ mặt:

    “Không có nghĩa là ngươi được phép khinh bạc ta.”

    “Ta không được phép?”

    Từ Huy Dạ áp vào má nàng:

    “Không được phép sao?”

    Đáy mắt hắn không thấy sóng tình, chỉ lóe lên tia sáng lạnh lẽo trong đêm tối. Liên Tú Nhân toàn thân run rẩy, không biết nên làm thế nào. Hắn cúi đầu, hôn nhẹ vào môi nàng, từ nông đến sâu, khiến nàng quên mất xung quanh. Ngay khi nàng vươn nhẹ đầu lưỡi đáp lại, hắn đột nhiên rời ra, ngắm nhìn đôi má đỏ hồng đẫm mồ hôi của nàng.

    Liên Tú Nhân vội nhắm ghịt mắt:

    “Từ khi theo hầu tiểu thư đến Cô Tô, gặp công tử tại Hổ Khâu, ta chưa từng quên ngươi. Trước giờ ta không nghĩ rằng, tiểu thư sẽ giữ ngươi lại nhà, ta …”

    Nàng phát giác bàn tay hắn vuốt nhẹ mái tóc mình. Thanh âm hắn trầm trầm:

    “Ta làm sao không biết, tỉnh hay mộng đều tưởng đến nàng.”

    Nàng vui mừng đến nín thở.

    Từ Huy Dạ cởi y phục nàng, ấn xuống vô số nụ hôn. Hơi thở hắn như cây cối mùa thu, tràn ngập khí vị điêu tàn. Hắn tựa vào lồng ngực nàng, mê mang thốt:

    “Từ khi gặp nàng, ta như điên đảo đêm ngày, không khắc nào quên được. Lúc ăn, lúc ngủ, rút kiếm cũng vì nàng, chỉ để một lần nữa được gặp nàng. Nhưng nàng là tôn nữ của Liên Tử Quy, đại tiểu thư khuê các, muốn đứng từ xa nhìn nàng cũng khó khăn. Ta cuối cùng đợi được thời khắc này, Khoái Tuyết, nàng là của ta, chỉ là của ta.”

    Liên Tú Nhân buông rủ tay, nắm chặt lớp đệm gấm trên ghế dài. Từ đầu chí cuối, nàng đều mang tư thế của một kẻ chết chìm trong dòng nước. Một cánh hồng bị vùi dập từ trên ghế rơi xuống mặt đất. Ban đầu cánh hoa trắng tinh khiết, chớp mắt rơi rụng thành bùn, vẫn còn lưu lại chút hương, tựa như tình yêu nhỏ bé mà bi thương của nàng.

    Phường Thọ An là nơi tập trung cửa hàng trang sức và y phục đứng đầu Lâm An, trong “Mộng lương lục” hình dung rằng “cực kì tinh xảo, trước nay hiếm thấy, thứ gì cũng có”.

    Triệu Phù Phong theo Giang Khoái Tuyết đi chợ, khổ sở than:

    “Khoái Tuyết, tiểu thư có phải đi mua xiêm y không? Sao đến liếc nhìn cũng không thèm nhìn vậy.”

    Giang Khoái Tuyết uể oải đáp:

    “Ừm, ta chỉ muốn đến nơi náo nhiệt đông người đi dạo một chút. Ta không muốn cả ngày ngồi lì trong nhà nữa.”

    Triệu Phù Phong thở dài:

    “Còn gặp ác mộng sao? Tiểu thư biết bản thân gầy lắm rồi không? Có một số chuyện, cần từ từ mới quên được.”

    Giang Khoái Tuyết dừng bước, trừng mắt với y:

    “Quên? Trừ khi ta chết.”

    Triệu Phù Phong nhẹ nhàng khuyên nhủ:

    “Long Sát đã mai một vô tung, dùng ảnh hưởng của Liên gia cùng nỗ lực của Thần Đao Môn đều không thể truy ra nguyên cớ nào chúng động thủ, tiểu như cần gì làm khổ bản thân như vậy?”

    Giang Khoái Tuyết nhấn mạnh từng chữ:

    “Ta còn sống ngày nào, ngày đó nhất định không quên thù hận.”

    “Bộ dạng tiểu thư bây giờ, bảo sao ta yên tâm rời đi được?”

    Giang Khoái Tuyết phát run, sóng mắt như nước hồ ngưng tụ thành băng, chậm chạp thốt:

    “Muốn huynh ngày nào cũng đi theo ta, kì thực là tính tình trẻ con của ta, thích làm nũng. Huynh cứ yên tâm mà đi, ta tự biết chiếu cố bản thân.”

    Triệu Phù Phong cười khổ:

    “Tiểu thư không hỏi ta vì sao muốn đi à?”

    Giang Khoái Tuyết cười lạnh:

    “Huynh đã nói muốn đi, ta hỏi hay không hỏi, liệu có gì quan trọng?”

    Nàng vốn cá tính kiêu ngạo, bất kể không nỡ thế nào, sẽ không dựa dẫm, càng không cầu người.

    Triệu Phù Phong đột nhiên nắm tay nàng, không để nàng né tránh:

    “Tiểu thư yên tâm, ta tìm ‘để dã già(1)’ rồi sẽ trở lại.”

    Giang Khoái Tuyết ngạc nhiên:

    “Huynh biết ‘để dả già’ sao? Đó chỉ là ghi chép khó chứng thực trong sách cổ, hoặc giả tìm được, cũng vị tất có thể giải độc hàn nha. Huống hồ Phất Lâm Quốc(2) xa tận chân trời, ta … chỉ sợ đợi huynh không nổi.”

    Giọng điệu Triệu Phù Phong sôi sục:

    “Tiểu thư nhất định phải đợi ta quay lại. Vì độc hàn nha, Khoái Tuyết sống mà chịu áp lực và khổ sở như vậy, ta không chịu được. Một ngày nào đó, ta muốn nàng có thể cười thật thống khoái, thoải mái khóc to, không cần kiêng kỵ.”

    Ánh mặt trời mùa hạ bao phủ cơ thể, khiến Giang Khoái Tuyết cảm giác nóng bức đau đớn. Nàng đã sớm biết, với tấm thân vô dụng của mình mà yêu phải một thiếu niên thích hành tẩu, nhất định chịu cô đơn. Nàng chỉ là không biết, ngày đó đến nhanh như vậy.

    Nụ cười của nàng quá bi thương, khiến y không dám đối mặt. Nàng nắm chặt bàn tay y, trong lòng than thầm: Nếu huynh nhất định đi, ta muốn để lại trong huynh hình ảnh chia li vui vẻ nhất.

    Dưới bóng trùng dương, Triệu Phù Phong ngắm nhìn Giang Khoái Tuyết, tình cảm sâu thẳm trong tâm tư đong đầy như trời cao đất rộng. Từ khi gặp gỡ đến ly biệt, chẳng qua chỉ được nửa năm, mà sự cảm mến đã thâm trọng như vậy.

    Hương thơm cơ thể nàng chậm rãi lan tỏa, đến hương hoa cỏ ngày hè cũng không thể mai một. Y như say sưa, lại cố gắng áp chế sóng tình. Kì thực khi bắt đầu y đã biết, nàng là một cô nương yêu chỉ để trong lòng, những thân mật giữa tình nhân sẽ hại đến tính mạng cả hai, nhưng tất cả lo lắng đều không che giấu được qua nụ cười.

    Y trầm giọng:

    “Khoái Tuyết, ta không biết yêu tiểu thư thế nào mới đủ. Ta từng gặp được một vị theo Bà La Môn ở nước Thiên Trúc. Ngài nói với ta, thế giới sau một kiếp sẽ hủy diệt, tức là bắt đầu lại lần nữa. Hi vọng chúng ta sau mỗi kiếp đều có thể ở cùng nhau.”

    Giang Khoái Tuyết tựa đầu lên vai y, cười khẽ:

    “Một kiếp có bốn mươi ba ức hai vạn năm sao. Ta không cần lâu như vậy, như bây giờ, đã là rất vui vẻ.”

    Nàng nghiêng đầu nhìn Triệu Phù Phong, ánh nắng xuyên kẽ lá rọi xuống, quầng sáng vàng bao phủ lấy y. Nàng tự nhủ:

    “Thật muốn phóng túng bản thân cùng huynh thân cận một lần, biến ta thành tình nhân thực sự, dẫu chết cũng được, nhưng lại không nỡ xa huynh, không nỡ như loài hoa chỉ lưu hương mùa hạ.”

    Thiếu niên thiếu nữ sóng vai dưới tàng cây, dương quang rạng rỡ, gió nồng lướt trên gương mặt, bóng mây trôi lửng lờ qua sườn núi xanh biếc, quang cảnh biến ảo, đẹp đẽ không gì tả nổi.

    “Phù Phong, khi huynh già rồi còn nhớ khoảnh khắc này không? Huynh thỉnh thoảng sẽ nhớ ta chứ?”

    “Ơ, ta không cần thiết nhớ, tiểu thư phải mỗi khắc đều nhắc nhở ta.”

    Nàng kín đáo thở dài:

    “Huynh an ủi ta thế này không được rồi. Chúng ta đều biết, ta không thể đi cùng huynh lâu như vậy.”

    Đôi mắt Triệu Phù Phong ẩn ước, kìm nén không nổi một giọt lệ rơi trúng mái tóc nàng. Y giữ chặt vai nàng, xương cốt mềm mại, da thịt mỏng manh. Dù cảm giác được hô hấp yếu ớt của nàng, nhưng khi chạm phải cơ thể lạnh như băng, y bỗng run rẩy.

    Giang Khoái Tuyết thấy y bất động nhìn mình, nét mặt tràn đầy bi thương. Nàng không thích y như vậy, nhẹ nhàng ấn sâu vào gò má y, nói bằng giọng điệu vui vẻ:

    “Ta và Phù Phong gặp nhau hoài không chán.”

    Cảm thấy được ngón tay mảnh khảnh mơn man gương mặt, xuân phong lướt nhẹ cùng lắm chỉ thế này, thanh âm y càng khó nhọc:

    “Phải, vĩnh viễn không chán.”

    Đôi mắt nàng trong vắt, nàng nói:

    “Phù Phong, huynh xoay lưng lại đi.”

    Y không hiểu ý, làm theo lời nàng, một lúc lâu mới nghe nàng nói:

    “Được rồi, huynh quay lại đi.”

    Y chuyển đầu, nín thở, tim đập nhanh, máu nóng bốc lên đỉnh đầu.

    Thiếu nữ đã trút bỏ toàn bộ y phục, lặng lẽ đứng dưới nắng, đôi chân trắng muốt đạp lên thảm cỏ xanh, thân thể mảnh mai như thân cây ngày xuân, da dẻ trong suốt như cánh hoa. Nàng thản nhiên nhìn y, tròng mắt đen thẳm phản chiếu bầu trời, áng mây và cả gương mặt y.

    Nàng dịu dàng thốt:

    “Phù Phong, huynh nhất định phải nghi nhớ ta, nhất định không được quên ta.”

    Thâm ý ẩn bên trong lời lẽ đã triệu tiêu dục vọng của y. Lệ nóng đong đầy hai mắt, tầm nhìn dần trở nên mờ nhạt, không còn trông rõ người ngọc trước mặt nữa.

    Nàng nghiêm nghị ngẩng lên đôi chút:

    “Kì thực, lúc gặp Phù Phong dưới gốc thạch nam, ta vui vô cùng. Ta muốn huynh ghi nhớ ta, cả đời chỉ yêu mình ta, không động tâm cùng bất cứ nữ tử nào khác. Dù hiện tại phải chết, nếu có thể sống trong lòng Phù Phong, ta sẽ rất hạnh phúc.”

    Y không kìm được, ôm nàng vào lòng, không dám dùng lực. Nhưng thân thể nàng mỏng manh đến nỗi không thể tưởng tượng, lại dán sát vào y, lấp trọn tâm tư cô độc của thiếu niên, khiến linh hồn y được thỏa mãn. Y nhẹ nhàng ngậm lấy cánh môi nàng, chỉ mới chạm vào, sự mềm mại ngọt ngào làm y như sắp tan chảy. Y không cách nào vượt quá giới hạn, cam tâm tình nguyện đón nhận sự tàn nhẫn của nàng.

    Rất lâu. Y lưu luyến không nỡ rời môi nàng, trầm giọng lên tiếng:

    “Chúng ta đi thôi. Tú Nhân và Huy Dạ đang đợi ở dịch đình.”

    Nàng ở trước mặt y vận lại y phục, ung dung ưu nhã. Y gác bên cạnh, ngón tay cắm sâu vào đất. Cuối cùng chỉ còn lại đai lưng, nàng thả dài đung đưa trước mặt y nói:

    “Huynh giúp ta.”

    Y vòng đai lưng quanh eo nàng, cảm giác như không chịu nổi một cái siết, cơ mồ dụng lực một chút sẽ vỡ.

    Vẻ mặt nàng tinh nghịch:

    “Ta không còn sức đi nữa rồi.”

    Y nhận lệnh, bồng nàng xuống sườn núi, xuyên qua cánh đồng. Nông dân đang canh tác trên đồng dụi mắt dữ dội, không dám tin những gì nhìn thấy, chỉ có con trâu vẫn nhàn nhã phẩy đuôi, cúi đầu gặm cỏ. Lúc ra đến quang đạo, y do dự một chút, thấy nàng lơ đểnh cười khúc khích, liền bỏ mặc những ánh mắt ngạc nhiên và dị nghị của mọi người lại phía sau.

    Từ Huy Dạ trông thấy đôi tình nhân bỏ mặc thế tục, quấn quýt không rời nọ đang tiến lại, cảm giác máu trong tim từ từ dâng trào, căng đầy đến mức muốn phá vỡ lồng ngực, mặc cho hắn uống bao nhiêu rượu ướp lạnh, cũng không thể hạ nhiệt.

    Triệu Phù Phong cáo biệt mọi người, khẩn cầu Từ Huy Dạ và Tú Nhân chiếu cố Khoái Tuyết. Hai người đó không nói gì, chỉ gật đầu.

    Giang Khoái Tuyết chầm chậm thả tay y ra, chợt thốt:

    “Phù Phong, huynh không cần đi …”

    Nàng ngập ngừng, tiếp:

    “Đợi ta đi rồi, huynh hãy đi.”

    Nàng rời dịch đình mà không quay đầu lại, leo lên xe ngựa, không muốn y nhìn thấy đôi mắt trào lệ, trống rỗng với nỗi tuyệt vọng. Trên đời không còn ai yêu ngươi như ta, ta cũng không yêu ai trên thế gian này như yêu ngươi. Vậy mà ngươi nhẫn tâm bỏ ta ra đi, ta cũng không muốn vì ngươi mà gượng cười.

    Triệu Phù Phong giương mắt nhìn xe ngựa đi về phía thành trì, mang theo người y yêu thương nhất rời ra dần. Ly biệt dẫu cho đau khổ, thiếu niên như cơn gió này vẫn tràn đầy lòng tin: y nhất định sẽ mang ‘để dã già’ về, chữa cho nàng có thể tự do mà yêu, tự do mà hận.

    (1): Theriac, là loại thuốc nổi tiếng từ ngoại quốc truyền vào nhà Đường qua Con đường Tơ lụa, xuất xứ từ Hy Lạp. Nó có vị đắng và cay, không độc, trị bách bệnh. Công dụng lớn nhất là trị độc, phong do chó hoang, dã thú, độc xà cắn phải. Loại thuốc này hỗn hợp nhiều thành phần.

    (2): Theo miêu tả từ những cổ thư Đường triều, bên kia biển tây có một quốc gia phồn thịnh, có nền y thuật phát triển. Qua tra cứu nhiều tài liệu, chứng thực đó là vùng đất Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ hiện tại. Thời kì đó thành trì này còn được xưng là đế chế La Mã phương Đông.


    5 Hộp bảo quản thực phẩm tủ lạnh-Tashuan
    5 Hộp bảo quản thực phẩm tủ lạnh-Tashuan


    HÀN NHA KIẾP

    Chương 5: Thả thính phong ngâm

    Triệu Phù Phong rời Hàng Châu vào ngày hè chói chang, lúc đến Trường An đã là mùa đông. Y cho rằng mình sẽ đến một đại đô thị, nhưng chỉ thấy một tòa tiểu thành khiến người ta hoài niệm và tưởng nhớ.

    Những năm cuối triều Đường, lúc Chu Ôn cưỡng bách Chiêu Tông dời đô thì Trường An đã biến thành tòa thành đổ nát, quan viên và sĩ dân bị ép di dời, cung thất và nhà dân đều bị phá hủy. Sau đó Hàn Kiến trùng tu Trường An, dần dần tu sửa hoàng thành trung ương, bỏ qua sáu mươi bảy dặm thành quách vòng ngoài và nơi cư ngụ của hoàng đế. Tòa thành nhỏ hẹp được duy trì đến thời Minh Thanh. Triệu Phù Phong nghĩ:

    “Khó trách lúc ta bảo hận sinh ra không phải người thời Đường, nhất định phải chiêm ngưỡng tòa đại thành trì này, Khoái Tuyết đã nói ta sẽ thất vọng. Nàng dù chỉ nhìn thiên hạ qua sách vở, lại hiểu biết hơn cả người thường.”

    Bất luận thế nào, thành Trường An có lịch sử xa xưa đã trở thành trạm dừng thứ nhất trên con đường đi về phía tây của Triệu Phù Phong. Y hướng về phủ Tây Lương, vào thời Đường là thủ đô của nước Tây Hạ, ‘viễn thượng bạch vân đích Hoàng Hà, vạn nhận sơn trung đích cô thành’, vẫn đẹp đẽ tráng lệ như thi nhân từng ca vịnh. Y băng qua thảm cỏ xanh thẫm tươi tốt chen kín phong cảnh, tịch mịch mà trống trải.

    Khi mặt trời mọc, Triệu Phù Phong không cầm lòng được, quay đầu nhìn, nhưng cảnh tượng Giang Nam đã thành cảnh mộng, chỉ còn dung mạo nàng phảng phất trong làn gió xuân, rõ mồn một nhưng tay không chạm tới.

    Tuyến đường hành tẩu của Triệu Phù Phong cũng tương tự đường đi tây thiên thỉnh kinh của hòa thượng, nhưng so với hòa thượng, y còn phải đi xa hơn. Xuyên qua Y Ngô và Cao Xương, men Thiên Sơn Nam Lộc mà đi, bão cát sa mạc cắt nát da thịt chàng thiếu niên miền nam, cũng suýt chút nữa đoạt tính mệnh y. Lúc thoi thóp nằm giữa sa mạc, Triệu Phù Phong nhìn thấy thiếu nữ tựa băng tuyết, tựa như tiên nhân trong động Đôn Hoàng đang khỏa thân nhảy múa. Y biết chỉ là ảo ảnh, lại càng nhớ đến cơ thể mềm mại cùng đôi môi trong ngần nọ.

    Triệu Phù Phong được đội lạc đà đi ngang cứu tỉnh, sau đó y băng qua Thông Lĩnh (cao nguyên Pamir), vào đến Trung Á. Khe núi hiểm trở, gió lớn tuyết lạnh, y vẫn đạp bằng dưới chân. Sức lực quả thật khiến người ta kinh sợ, nội công Thần Đao Môn y tu tập giúp y mỗi lần đều vượt qua cực hạn.

    Triệu Phù Phong tiếp tục tiến về phía tây không chút do dự, hơn nữa, bản thân rất tin cuối cùng sẽ đến Phất Lâm Quốc được ghi chép trong thư tịch cổ, một đất nước nằm ở duyên hải biển tây rộng lớn. Chuyến đi dài ngày buồn chán, y dần dần quên mất cách nói chuyện, trở thành một nam tử trầm mặc nghiêm túc. Chỉ có trong giấc mộng giữa đêm, nghe được nàng dùng âm điệu cố quốc gọi tên mình, y mới có thể mỉm cười như chàng thiếu niên ngày trước.

    Khi xuyên qua lưu vực sông Để Cách Lí Tư(1) và Ấu Phát Lạp Để(2), Triệu Phù Phong bắt đầu lạc mất phương hướng, theo đoàn hành hương đến thánh thành Da Lộ Tát Lãnh(3). Nơi đó cách Địa Trung Hải rất gần, y bèn lưu lại.

    Mùa hè đầu tiên của thế kỉ mười ba rất nóng và khô hạn. Triệu Phù Phong đơn độc ghé qua giáo đường Da Lộ Tát Lãnh, đến tận hôm ấy, cả vị trí của Phất Lâm Quốc y cũng vô phương xác định, tâm tình phiền muộn. Từ “Tùy thư”, “Đường thư” đến “tân tu bản thảo”, “Dậu Dương tạp trở”, đối với ghi chép về Phất Lâm trong chính sử hay bút ký y đều thuộc như lòng bàn tay, cũng chẳng sợ bất kì gian nan hiểm trở nào, nhưng y không ngờ ngôn ngữ của mình đã thành một trở ngại. Phất Lâm, Phất Lâm … mỗi lần hỏi người ta, đối phương đều phản ứng bằng một bộ mặt ngờ nghệch.

    Thanh âm nhiệt náo cắt đứt mạch suy tư của y, ngước mắt trông lên, ra là một võ sĩ Thổ Nhĩ Kì có thân hình vĩ đại đang nắm tóc một thiếu niên, không ngừng đập đầu hắn vào tảng đá ven đường. Đám võ sĩ đứng vây quanh xem trò, cười cợt ầm ầm. Thiếu niên khá kiên nhẫn, bất chấp mặt mũi đầy máu, không rên lấy nửa tiếng.

    Lần thứ nhất quân thập tự đông chinh lập vương quốc Da Lộ Tát Lãnh đã thất bại, lần thứ hai thì rơi vào tay người Thổ Nhĩ Kì, những giáo đồ Hồi giáo cuồng nhiệt này đối xử rất tàn khốc với người phương tây thuộc Kito đến triều bái, cho là để đáp lại trận đại đồ sát “huyết ứ cập mã tất”(4) của thập tự quân năm xưa. Triệu Phù Phong tất nhiên không rõ nội tình này, chỉ là hiệp khí không vì thời gian lưu lạc mà giảm đi.

    Vô thanh vô tức, Triệu Phù Phong rút cương đao khỏi vỏ, kề cổ võ sĩ nọ:

    “Thả đứa trẻ đó ra!”

    Tiếng Đột Quyết(5) của y bập bẹ nhưng ngữ khí quả quyết.

    Một gã võ sĩ Thổ Nhì Kì giận dữ rống lên, rút loan đao bổ về phía y. Triệu Phù Phong không hề động thân, đao xuất kích với góc độ và lực đạo không thể tưởng tượng nổi, như cầu vồng mới lộ, như điện chớp trong đêm, nháy mắt đã chặt đứt vũ khí của đối thủ, chấn liệt hổ khẩu, đao trở lại cần cổ võ sĩ nọ. Một chiêu quỷ mị đó khiến võ sĩ ngây người như gỗ trừng mắt với nam tử đáng sợ này, tóc y đen nhánh, màu da sạm nâu, mớ râu rậm càng làm đôi mắt đen sáng quắc.

    Đám võ sĩ nhìn nhau hội ý, đột nhiên bạt đao, mau lẹ phi thường, phân ra tấn công hai mắt, trước ngực, sau lưng và hạ bàn Triệu Phù Phong. Người Thổ Nhĩ Kỳ là một chi của tây Đột Quyết, cực kì hung hãn, đao pháp không có chút hoa mĩ, đều là sát chiêu được tôi rèn từ chiến trận. Trước mắt thấy Triệu Phù Phong khó lòng tránh được, thân thể như cá vẫy nước, nhất thời nghe đinh đinh mấy tiếng rất lớn, bốn thanh đao chém vào nhau đến tóe hoa lửa. Một gã võ sĩ thu thế không kịp, chém bị thương bả vai đồng bọn.

    Triệu Phù Phong chán ghét chúng xuất thủ không lượng tình, trong khoảnh khắc trở tay phát đao, đao phong lẫm liệt, y phục đám võ sĩ rách bươm, những mảnh vụn tung bay như hồ điệp lượn đầy không trung, trông rất đẹp mắt. Nếu không phải Triệu Phù phong thủ hạ lưu tình, mấy gã này sớm đã da thịt bất toàn. Đám võ sĩ quay mặt nhìn nhau, bị công phu thần diệu làm chấn động mất hồn, bỗng có một kẻ bất chấp đang lỏa thể, xoay người chạy mất, những gã khác cũng tức khắc chạy theo. Võ sĩ mập kêu thảm một tiếng, ném thiếu niên kia rồi đào tẩu luôn.

    Triệu Phù Phong đã lâu không dùng đến chiêu này, nhất thời nhớ năm đó nàng ngồi sau rèm nhẹ nhàng lên tiếng:

    “Tại sao gọi là ‘bất giáo hoa sấu’?”

    Xa cách chín năm, thiếu nữ có giọng nói đẹp nọ như thế nào rồi? Nghĩ đến đó, y không khỏi sầu muộn. Đam mê thời tuổi trẻ, giờ khắc này đã bị thời gian xâm thực, không gian cách trở bào mòn ít nhiều, chỉ còn lại khối quyết tâm. Ngũ nhạc trái lại vì nhẹ mà trọng, một lời đã hứa, y chưa từng một lần hối hận.

    Thiếu niên từ mặt đất bò dậy, không để ý máu vẫn đang chảy, nhiệt tình nói gì đó với Triệu Phù Phong. Triệu Phù Phong khổ sở thở dài, biết đây là một loại ngôn ngữ nghe chẳng thể hiểu. Y trỏ vết thương trên trán thiếu niên, ngăn không cho thiếu niên nói nữa. Thiếu niên hiểu ý gật đầu, lấy trong hộp nhỏ đeo bên người ra một bình thuốc và một cuộn băng, thành thục băng vết thương.

    Triệu Phù Phong thấy hắn quấn băng quanh đầu thành một cái nón giáp, chỉ chừa lại đôi mắt xanh đưa qua đưa lại, không khỏi phì cười, thử hỏi thăm:

    “Ngươi biết Phất Lâm Quốc không?”

    Y dùng Phạn ngữ nói một lần, lại dùng tiếng Đột Quyết nói lần nữa. Thiếu niên ngẩn ngơ, không có phản ứng. Triệu Phù Phong nhụt chí:

    “Khoái Tuyết ơi Khoái Tuyết, ta quả thực sắp hóa điên rồi, thật sự hoài nghi Phất Lâm bất quá là quốc gia hư vô.”

    Lời này y nói bằng tiếng Hán, thứ ngôn ngữ có bốn thanh biến hóa, ưu mỹ như ca hát.

    Thiếu niên nhìn chằm chằm Triệu Phù Phong, bất chợt vẻ mặt mừng rỡ, thốt lên “Tắc Lợi Tư”. Triệu Phù Phong không biết đó là cách người Hi Lạp gọi người Trung Quốc, ý nghĩ là quốc gia tơ lụa, nhưng biểu tình của thiếu niên đã cổ vũ y. Một người nói tiếng Hán, một người nói tiếng Hi Lạp, qua một phen ông nói gà bà nói vịt(6), thiếu niên lưu ý đến từ “Phất Lâm” thường xuất hiện, suy nghĩ tỉ mỉ rồi, hắn giơ hộp thuốc lên, quả quyết chỉ vào huy hiệu trang sức bằng men đẹp mắt bên trên hộp.

    Giống như người Hi Lạp dùng tơ trù để gọi Trung Quốc, người Trung Quốc dùng “pháp lang”(7) để chỉ triều đại của khu vực Basileia, Đường Tống gọi là Phất Lâm, Minh Thanh gọi là Pháp Lang. Triệu Phù Phong tiếp cận được quốc gia mà trong mộng y cũng tìm kiếm, nhưng y không tin tưởng, nghi ngờ đón nhận hộp thuốc, thấy bức vẽ trên men đó ngay ngắn, vẽ cảnh thánh Phan Thác Lý Mông(8) đang hành y. Triệu Phù Phong lập tức liên tưởng đến thánh dược giải độc “để dã già”. Thế là hai người trong tình huống ngôn ngữ hoàn toàn không thông, nhờ dùng dấu hiệu để hiểu nhau. Triệu Phù Phong quyết định theo thiếu niên hiểu biết chút ít y thuật này, cho đến khi có thể dùng ngôn ngữ của hắn để biểu đạt ý nguyện bản thân. Dù sao hắn là người đầu tiên có phản ứng với Phất Lâm và “để dã già”. Thiếu niên cũng vô cùng vui vẻ làm bạn đồng hành với người “Tắc Lợi Tư” có sức mạnh như thần này, dẫu gì y đã cứu hắn.

    Thiếu niên vỗ ngực, lập lại nhiều lần:

    “Liệt Áo.”

    Triệu phù Phong cũng chỉ vào mình nói:

    “Triệu Phù Phong.”

    Nhưng bị Liệt Áo phát âm thành “Chúc Hồ Hồ.”

    Triệu Phù Phong cùng Liệt Áo đi men theo ngạn bắc Địa Trung Hải, đến A Lặc Pha(9) rồi chuyển hướng tây, lại đến cổ thành Dĩ Phất Sở ven bờ biển Ái Cầm(10). Họ men theo mảnh đất màu mỡ vùng Tiểu Á ven biển mà đi, bên phải là bình nguyên phì nhiêu và sơn cốc, bên trái là biển Ái Cầm, sóng nước thâm trầm, hải âu lượn lờ, cá kiếm bạc nhảy sóng lớn. Triệu Phù Phong sống tại đảo Nam Hải ở Trung Quốc từ nhỏ đến lớn, phong cảnh tương đồng khiến tâm tình y dần khoang khoái. Y học được rất nhiều câu tiếng Hi Lạp, cuối cùng đã hiểu rõ, cái gọi là Phất Lâm, đích thị ám chỉ thứ đồ dùng phát ra ánh sáng lộng lẫy như cầu vồng. Hai tháng sau, y và Liệt Áo băng qua biển Mã Nghĩ Mã Lạp(11), tới thủ đô Constantinople của đế quốc Basileia.

    Constantinople tọa vị ngay Balkan Peninsula, ba mặt hướng biển, mặt thứ tư có tường thành lục địa cao lớn, là thành trì kiên cố nhất trong lịch sử. Nó và vùng Tiểu Á Tế Á (Anatolia) cách nhau eo biển Bosphorus, có thể nói là eo biển chính qua lại giữa Âu Á, điểm giao nhau của thương lộ đông tây, trình độ phồn hoa của nó càng siêu việt hơn Triệu Phù Phong tưởng tượng gấp ngàn lần.

    Triệu Phù Phong và Liệt Áo lên ngựa, xuyên qua xưởng thuyền nhiệt nháo, tiến vào trung tâm của đông chánh giáo(12). Những tiếc nuối lúc ngang qua Trường An đều được đền bù khi đến Constantinople. Dương quang xán lạn, giáo đường tráng lệ, cung điện và quảng trường tựa như kỳ tích tạo tác từ đồng và đá cẩm thạch, khiến Triệu Phù Phong mê mẩn hoa mắt, tim đập nhanh. Y tự trào nghĩ:

    “Dù là lần đầu gặp Khoái Tuyết, cũng khiến ta thế này là cùng.”

    Đường cái nhộn nhịp, tràn ngập phố phường là các sắc dân, chủng tộc, các thứ ngôn ngữ. Ven đường có những cột trụ thậm chí cao hơn mười mét, đỉnh trụ là những thánh nhân khổ tu, bộc lộ sự từng trải nắng gió mưa bão, giống như đang ban phát sự sống cho con người. Triệu Phù Phong lần đầu tiên gặp khổ hành giả trên đỉnh trụ, lấy làm kì thú. Liệt Áo liền dừng lại, dùng tiếng Hi Lạp giảng giải cho y, nhưng y cả thảy chỉ ghi nhớ được cách phát âm.

    Hai người băng qua đường cái, rẻ vào hẻm ngang ngõ dọc khúc khuỷu, đến tu đạo viện“Phan Thác Khắc Lạp Đặc” nằm ở tây bắc thành. Y liệu của đế quốc do giáo hội phụ trách. Giáo hội xây dựng y viện rải khắp các nơi, nhưng y viện Phan Thác Khắc Lạp Đặc là hoàn thiện nhất đế quốc. Triệu Phù Phong đứng dưới tấm thảm len treo tường, nhìn các gian phòng bệnh với các y sinh bận rộn, hai mắt sáng rực.

    Một phụ nhân mập đến mất cả eo nhìn thấy Liệt Áo, từ hành lang phóng ra với tốc độ kinh ngạc, thân hình to lớn dừng lại ngay trước mũi Liệt Áo, hai tay múa may kịch liệt, giận dữ la hét gì đó, rồi lại kéo Liệt Áo vào lòng, thân thiết vô cùng.

    Kẻ trốn nhà Liệt Áo hối hận rướn đầu ra từ lòng phụ nhân, hướng Triệu Phù Phong nói:

    “Mẫu thân tôi.”

    Rồi hắn quay sang nói một hồi với bà ấy. Phụ nhân lập tức buông Liệt Áo ra, trang trọng hành lễ với Triệu Phù Phong, nói:

    “Cảm tạ ngài, người Tắc Lợi Tư. Ngài đã cứu con ta, ta không biết làm sao báo đáp ngài, nhưng nhất định sẽ giúp ngài tìm …”, bà nhìn sang Liệt Áo dò hỏi, “Người Tắc Lợi Tư muốn tìm gì vậy?”

    Liệt Áo nhún vai:

    “Con cũng không rõ lắm. Hồ hồ không biết nói tiếng của ta, con đang dạy y. Mẫu thân, mẹ có thể giữ y lại không?”

    Phụ nhân cười nói:

    “Tất nhiên có thể.”

    Triệu Phù Phong không hiểu họ nói gì, nhìn thấy mẫu tử trùng phùng, khóe môi cũng nở nụ cười. Y là cô nhi không cha không mẹ, do sư phụ nuôi lớn. Mái nhà Nam Hải ấm áp ban cho Triệu Phù Phong tấm lòng phóng khoáng. Y chưa từng phiền não vì thân thế của mình, nhưng giờ khắc này, không khỏi có chút hâm mộ.

    Triệu Phù Phong ở lại nhà của Liệt Áo. Trải qua mấy ngày nhàn rỗi, y bắt đầu thấy bất an. Từ trước đến nay, Triệu Phù Phong đều dựa vào bản lĩnh của mình để kiếm cơm. Y từng làm bảo tiêu, chăn ngựa, thậm chí lao động, nhưng chưa từng dùng võ công tước đoạt bất cứ gì, không hưởng lợi lộc từ công lao của người khác, càng không nghĩ đến những điều đó. Mẫu thân của Liệt Áo, Đề Áo Đa Đặc là đầu bếp của tu đạo viện, chuyên nấu nướng cho bệnh nhân. Triệu Phù Phong ngày ngày giúp bà đun nước thái rau. Nương tựa y viện, y cảm giác ở rất gần “để dã già”, trong lòng có chút thoải mái.

    Cuối cùng đến một ngày, Triệu Phù Phong dùng tiếng Hi Lạp nói với Liệt Áo và Đề Áo Đa Đặc:

    “Tôi muốn tìm một loại giải dược có tên gọi là ‘để dã già’”, nhớ lại miêu tả tính trạng trong cổ tịch, cực lực dùng ngôn ngữ chuẩn xác biểu đạt, “màu đen đỏ, hình dạng giống viên thuốc để lâu ngày. Phải rồi, phối liệu là dùng gan heo.”

    Ánh mặt trời xuyên qua cửa sổ nhà bếp, chiếu rọi gương mặt trầm ổn của y, không khí quyện hương hoa quả đã chín.

    Đề Áo Đa Đặc buồn rầu khoanh tay:

    “Ồ, Thượng đế, tôi đã ở Phan Thác Khắc Lạp Đặc ba mươi năm, chưa từng nghe qua loại thuốc này.”

    Liệt Áo nói:

    “Hi Lí Tì lão sư là người có học vấn nhất, con đi thỉnh giáo thầy.”

    Rồi hắn nhanh chóng rời khỏi bếp. Triệu Phù Phong đuổi theo gọi:

    “Tôi đi cùng cậu cùng.”

    Đã đợi lâu như vậy, y cảm giác bản thân một khắc cũng không đợi nỗi.

    Hi Lí Tì phụ trách truyền thụ y lý cho nhân viên tân tiến của y viện, là người được tôn trọng nhất Phan Thác Khắc Lạp Đặc. Tâm tình hai người khẩn trương, đến ngoài cửa phòng giáo sĩ, cước bộ chậm lại. Mái tóc Hi Lí Tì màu xám bạc, đầu đội mũ da dê, hỏi:

    “Có chuyện gì?”

    Liệt Áo reo lên:

    “Lão sư, để dã già là gì vậy?”

    Hi Lí Tì ngẩng đầu, bối rối hỏi:

    “Để dã già là bí dược hoàng thất, từ đâu mấy người nghe được?”

    Triệu Phù Phong cảm giác như nghe được tiếng ca mỹ diệu vang vọng, thế giới chung quanh đột nhiên bừng sáng. Y hít một hơi thật sâu, từ từ trả lời:

    “Hơn năm trăm năm trước, nơi đây từng có một vị sứ thần đi qua Tắc Lợi Tư, mang ‘để dã già’ tặng cho hoàng đế của chúng tôi, sự kiện này được ghi lại trong sách sử. Vị hôn thê của tôi trúng một loại độc kì quái, chỉ có để dã già giải được, cho nên …”

    Hi Lí Tì ngắt lời Triệu Phù Phong.

    “Cho nên cậu vì nàng ấy, không quản ngàn vạn dặm cầu dược sao?”, lão nhân tiếc nuối lắc đầu, “Đáng tiếc ta giúp không được, người Tắc Lợi Tư à. Để dã già cất giấu tại giáo đường thánh Sofia, trừ trưởng giám mục tại giáo trường Constantinople, không ai được lấy.”

    Giáo đường Thánh Sofia là trung tâm sinh hoạt tôn giáo của đế quốc Basileia, kì tích kiến trúc đẹp nhất lịch sử. Triệu Phù Phong đứng trong ngôi đình trung tâm quảng trường, ngước nhìn tượng Thánh Sofia to lớn trên mái vòm, xa xa là trời nước xanh ngắt, nhất thời cảm xúc phức tạp. Mái vòm này phủ trùm giấc mộng lớn nhất đời y.

    Trưởng giám mục thực hiện xong Thánh lễ, lúc bước ra trước viện Thánh Sofia, bị Triệu Phù Phong cản đường. Trưởng giám mục dò xét trang phục khác lạ của y, hơi nhướng mày, ngạc nhiên hỏi:

    “Một vọng đạo giả chăng?”

    Triệu Phù Phong không biết đó là xưng vị tin tưởng hay không đáng tin, đáp:

    “Tôi muốn cầu xin ngài một vật.”

    Chúng giáo sĩ bên cạnh nhướng mày. Trưởng giám mục do dự nhìn sâu vào nhãn tình sáng như hắc diệu thạch của Triệu Phù Phong:

    “Nói sao, ngươi muốn vật gì?”

    “Để dã già.”

    Trưởng giám mục phẩy tay bỏ đi, cho rằng chỉ là một gã điên không biết nặng nhẹ. Nhưng từ đó về sau, mỗi lần làm Thánh lễ xong ở giáo đường Thánh Sofia, lão đều gặp nam tử phương đông này đứng ở gốc cột cẩm thạch lớn, trầm mặc nhìn mình, mưa gió không đổi, khiến lão khó làm ngơ trước sự tồn tại của y.

    “Ngươi, qua đây.”, trưởng giám mục ngoắc ngón tay, đối với một Triệu Phù Phong trong nháy mắt đã lộ ra vẻ mặt hoan hỉ, lão phiền não thốt, “Không nên cầu lấy những thứ không tương xứng với bản thân, sẽ đem lại hậu hoạn cho ngươi.”

    Triệu Phù Phong quả quyết đáp:

    “Thuốc dùng để cứu người, tôi từ Nam Hải chạy đến Tây hải, xuyên qua cả dải lục địa, chỉ vì một người bị bệnh tật đau đớn giam hãm, không phải vì bản thân.”

    Lời đáp chấn động trưởng giám mục, nhìn Triệu Phù Phong hồi lâu mới hỏi:

    “Ngươi đến từ đâu?”

    “Tắc Lợi Tư.”

    “Ôi chao!”, trưởng giám mục xoay người, “Tắc Lợi Tư nhân, theo ta.”

    Triệu Phù Phong lần đầu tiên tiến vào giáo đường Thánh Sofia. Đường kính ba mươi ba mét, trung ương đỉnh vòm cao hơn đầu người sáu mươi mét, kỹ thuật tạo cung vòm phảng phất như trôi nổi tại không trung, tạo nên một không gian sâu xa vĩ đại. Ánh mặt trời từ bốn mươi hai cửa sổ cung vòm trên đỉnh rọi xuống, hòa cùng họa tượng khảm từ thủy tinh và cẩm thạch tỏa sáng huy hoàng, biến ảo giữa xanh biếc và hồng phấn, giữa ban ngày mà bóng đổ kéo dài vô tận, tựa hồ không có điểm cuối. Người đứng bên trong nhỏ bé như hạt bụi giữa không trung, mỗi bước đi dường như đến gần với Thượng đế hơn.

    Trưởng giám mục nhìn ra được sự rung động của Triệu Phù Phong, thân thiện mỉm cười:

    “Người Tắc Lợi Tư, ngươi tin Ngài không?”

    Lão biết đông chánh giáo từng truyền đến Tắc Lợi Tư, vì thế hỏi thử.

    “Tin?”, Triệu Phù Phong chưa từng nghiên cứu đến vấn đề này, bèn suy nghĩ, bản tính du hiệp có trong huyết quản dâng trào trở lại.

    Y nắm chặt thanh đao chưa từng rời thân, hồi đáp:

    “Tôi là tôi, chưa từng cúng bái, chưa từng vái lạy nhân thần nào trước đây.”

    Nam tử vừa đen vừa gầy gò này nhất thời khí thế hiên ngang.

    Trưởng giám mục chấp chưởng giáo hội đông phương ở Constantinople với giáo hoàng La Mã ở giáo hội tây phương đều như nhau, không một ai có thể ở trước mặt họ, tại giáo đường Thánh Sofia mà nói ra những lời bất kính thần thánh như vậy. Trưởng giám mục giận dữ trong lòng, nhìn Triệu Phù Phong, ra vẻ không có gì nói:

    “Thu lại sự cuồng vọng của ngươi đi, hãy đến trước đàn thuyết giảng cúi đầu. Tin thờ Người, vật ngươi mong cầu, trừ những gì quá đáng, còn lại đều có thể.”

    Bàn tay cầm đao của Triệu Phù Phong toát mồ hôi, y trầm mặc hồi lâu, nghẹn giọng thốt:

    “Không, tôi không thể.”

    Dùng tự do của một du hiệp đổi lấy để dã già, thật hổ thẹn. Dù là vì tình yêu hay lời hứa, y cũng không thể bán đứng bản thân.

    Trưởng giám mục giương mắt nhìn Triệu Phù Phong rảo bước rời khỏi, thâm tâm thất vọng vô cùng. Người Tắc Lợi Tư cố chấp này khiến trưởng giám mục liên tưởng đến loài ưng cô độc trên cao nguyên Anatolia.

    Công Nguyên năm 1203, tại Trung Quốc là thời Nam Tống, Gia Thái tam niên. Giáo hoàng La Mã và Tổng đốc Venice phát động thập tự quân đông chinh lần thứ tư, không mở cuộc giao tranh với giáo đồ Hồi giáo ở Jerusalem, mà là công phá vào Constantinople, hoàng thái tử A Liệt Khắc Tái thân tây Âu được đội vương miện hoàng đế. Người dân Basileia phẫn nộ vì giáo hội tây phương bành trướng, tháng một năm kế tiếp, A Liệt Khắc Tái bị treo cổ, thập tự quân bị vây bên ngoài thành Constantinople.

    Tháng tư, Tổng đốc Venice phát động tấn công Constantinople lần thứ hai. Triệu Phù Phong đứng trên lầu cao của tu đạo viện Phan Thác Khắc Lạp Đặc, trông thấy vịnh Kim Giác(13) xảy ra trận chiến kịch liệt. Sườn núi bốn mặt hướng biển phản xạ kim sắc dương quang, quyện cùng binh khí lấp lánh như ánh tuyết trông thật đẹp mắt. Thập tự quân kéo thang và buộc cầu tại đỉnh cột buồm, công kích tường thành lục địa và cửa cảng. Triệu Phù Phong thở dài, có chút tâm thái chán nản của ngoại nhân.

    Liệt Áo hồng hộc trèo lên lầu.

    “Hồ Hồ!”, mặt thiếu niên đỏ bừng, giận dữ huơ nắm tay, “Bọn thập tự quân đáng chết công phá Constantinople, lũ cường đạo cái gì cũng cướp, ngay cả giáo đường và mộ phần cũng không bỏ qua.”

    Quân đội tín đồ Cơ đốc chiến đầu vì Thánh địa không tới được Thánh địa, muốn quét sạch thành thị Cơ đốc giáo vĩ đại, quả là sự mỉa mai lớn nhất.

    “Giáo đường?”, mái vòm Thánh Sofia mỹ lệ hiện lên trước mặt Triệu Phù Phong. Y vội vàng trèo khỏi tháp, băng mình chạy đi, bỏ mặc Liệt Áo đang hô hoán phía sau. Hai năm nay, mỗi ngày y đều muốn chạy đến chỗ Thánh Sofia, rất muốn nói với trưởng giám mục rằng:

    “Chúng ta trao đổi đi, ta tin đức Ngài của ông, giao để dã già cho ta.”

    Trên đường rất loạn, nơi đâu cũng thấy chiến sĩ thập tự quân ôm kim ngân châu báu, dụng cụ quý giá và tơ trù da thuộc. Triệu Phù Phong càng nóng lòng, triển khai khinh công, tựa cơn gió lướt qua con đường dài.

    Trên bậc thềm giáo đường Thánh Sofia, trưởng giám mục đứng chấp tay, âm trầm nhìn phán xét kị sĩ thập tự quân dưới thềm. Trong đám kị sĩ, có một gã chính là giáo sĩ được sùng kính, người bảo hộ giáo hội. Bọn họ không muốn mạo phạm trưởng giám mục, nhưng kho báu trong giáo đường Thánh Sofia thật sự mê hoặc người. Nghe choang một tiếng, một gã kị sĩ hết kiên nhẫn, đã rút trường kiếm, bước lên bậc thềm, muốn bức lui trưởng giám mục.

    Kị sĩ không thể tiến thêm bước nào. Triệu Phù Phong như đại điểu lướt qua đỉnh đầu gã, hữu thủ vung đao xuất kích, xuyên thủng ba lớp giáp trước ngực hắn, xé toạc lớp áo rộng cuối cùng, tả thủ đoạt trường kiếm ném xuống mặt đất. Kị sĩ cảm giác được mũi đao lạnh toát dán vào da thịt, không dám tiếp tục bước tới. Thần lực kinh người ảnh hưởng đến những kẻ còn lại, Triệu Phù Phong đã tính toán chuẩn xác, ngay cả kị sĩ kinh qua huấn luyện tàn khốc cũng phải run bắn.

    Triệu Phù Phong thu mũi đao buông thỏng, giản dị thốt:

    “Đi đi.”

    Kị sĩ uất nhục trừng trừng nhìn gã hán tử gầy gò râu ria, nhưng vô lực phản kích, đành lui sang bên.

    Vó ngựa lộc cộc, hai bóng ngựa từ trung tâm quảng trường điên cuồng phóng lại. Kị sĩ trên ngựa chong ngọn trường mâu dài ba mét, dùng khí thế như sấm sét tấn công Triệu Phù Phong. Loại trường mâu này vào cuối thế kỉ mười một mới du nhập vào chiến trường châu Âu, cần phải kinh qua những trận chiến đẫm máu mới có thể sử dụng thành thạo. Bằng vào lực đâm do ngựa xông tới, một khi trúng địch nhân, cường độ đó cơ thể huyết nhục không cách nào chịu đựng được.

    Triệu Phù Phong không lui không tránh, thân thể hơi chùn, quát lớn một tiếng, chộp lấy hai thanh trường mâu. Mượn lực đang tới, thân người y xoay chuyển, hai cánh tay như đôi cánh ưng giang rộng, mang theo hai gã kị sĩ không chịu buông tay kia rời khỏi lưng ngựa. Chỉ nghe răng rắc hai tiếng, trường mâu gãy đôi, kị sĩ bị ném xuống mặt đất. Trong đó, một gã bị chiến mã của đồng bọn dẫm trúng, xương vai trái vỡ vụn, lập tức hôn mê.

    Những kẻ đứng xem hoảng sợ thất sắc. Trưởng giám mục từ đầu vẫn không lên tiếng, đột nhiên thốt:

    “Người Tắc Lợi Tư, ngươi qua đây.”

    Triệu Phù Phong bước lên bậc thềm, không đợi trưởng giám mục mở miệng, đã nói trước:

    “Tôi không phải chiến đấu vì thần của ngài, mà vì để dã già trong kho tàng Thánh Sofia. Tôi không muốn cướp đoạt, cũng không để kẻ khác cướp đoạt.”

    Trưởng giám mục không hiểu nổi nguyên tắc của Triệu Phù Phong, nhưng trong lòng lão, người Tắc Lợi Tư không tin thần nhân này thực sự còn hơn đám tín đồ Cơ đốc tham lam dưới kia gấp trăm lần. Lão gật gù:

    “Người Tắc Lợi Tư, ta đồng ý tặng ngươi để dã già, không kèm điều kiện nào khác.”

    Triệu Phù Phong nghe tận đáy lòng dậy sóng, nhưng không thể biểu đạt thành lời, chỉ đành gật đầu. Nguyện vọng nhiều năm đột nhiên thành hiện thực, y không dám tin đây là thật. Trưởng giám mục dẫn Triệu Phù Phong xuyên qua giáo đường Thánh Sofia, lấy một bình nhỏ từ căn hầm bí mật dưới đạo đàn đưa cho y.

    Đám kị sĩ thập tự quân theo sát ngay phía sau, bắt đầu vơ vét giáo đường, người đến càng lúc càng đông. Tay trái Triệu Phù Phong giữ bình thuốc, tay phải bạt đao. Trưởng giám mục uể oải huơ hai tay nói:

    “Ngươi là võ sĩ kiệt xuất nhất ta từng gặp, nhưng ngươi không thể chống đối cả một đội quân, cũng không thể cứu vãn một tòa thành trì. Bất tất để ý bọn họ, đi đi, trở về Tắc Lợi Tư đi!”

    Triệu Phù Phong băng qua máu và lửa, trong lòng không rõ là vui hay buồn, thành thị vĩ đại này đã thành toàn cho y. Sáu mươi năm sau, hoàng đế Basileia quang phục Constantinople, kết thúc sự thống trị của người Latin, những thành thị bị tàn phá, phong quang từ đó về sau không còn nữa rồi.

    (1): Sông Tigris ở Iraq

    (2): Sông Euphrates

    (3): Jerusalem

    (4): máu đổ dâng cao đến gối ngựa.

    (5): Turkic: Cái này là người dịch mắc cười nên muốn bày tỏ thôi, 4 thanh sao hay bằng tiếng Việt 6 thanh.

    (6): kê (gà) đồng áp (vịt) giảng,

    (7): men, ceremic

    (8): con trai thần Hermes

    (9): Aleppo, thành phố lớn nhất Syria

    (10): thành Ephesis ven bờ biển Aegean

    (11): Biển Marmara của Thổ Nhĩ Kì

    (12): Eastern Orthodox

    (13): Zolotory Rog hay Vịnh Golden Horn

    HÀN NHA KIẾP

    Chương 6: Tử ngọc thành yên

    Tác giả: Thịnh Nhan

    Người dịch: Michelle Yip

    Triệu Phù Phong cáo biệt Liệt Áo, cất bước lên đường. Lão ưng mỏi cảnh trải bao phen nắng mưa, khi rời Giang Nam y vẫn là một thiếu niên mười chín tuổi, khi trở về đã không còn nhớ tuổi tác.

    Khoảnh khắc tiến vào thành Lâm An, chuyện xưa chợt ùa về, làm Triệu Phù Phong mê muội. Gió xuân mang theo không khí ẩm ướt của Tây Hồ, quấn quýt da thịt, y xuyên qua Kim Môn, vào đến khu vực phú quý phong lưu nhất hồng trần. Dọc đường đi, y chỉ mong mau chóng đến nơi, trao ‘để dã già’ đến tận tay nàng, khi thực sự đến rồi, bỗng nảy sinh một chút cảm giác e sợ, không biết làm thế nào con người của hai mươi năm sau đối mặt với tình cảm hai mươi năm trước.

    Triệu Phù Phong bước vào ngõ hẹp Liên gia, hàng trúc chạy dọc hai bên tiểu lâu, bụi này nối bụi kia, vươn thân rậm rạp từ đầu đến cúi ngõ. Thiếu nữ quấn mũ xanh xách theo một cái làn trúc, nhẹ nhàng bước ngang qua y, lưu lại hương thược dược, tiếng rao bán hoa dịu dàng ngân lên xa dần. Mùi vị hấp dẫn tỏa ra từ hiệu bánh nướng, mấy đứa trẻ bô ba đứng đợi ngoài cửa, bị mẫu thân giục đi.

    Vẫn là một ngõ hẹp không bắt mắt, ẩn sâu giữa thành Lâm An phồn hoa. Thuở niên thiếu, mỗi ngày dù người không đến, trong mộng cũng ghé vào vài lần, Triệu Phù Phong quen thuộc với nó như chỉ tay trong lòng bàn tay, nhưng không hiểu vì sao, hiện tại y nảy sinh cảm giác lạ lẫm. Đi đến giữa ngõ, bước chân y chậm lại, phát hiện mấu chốt: ngõ hẹp có lịch sử trăm năm, bây giờ xem ra mới tinh, một vài nhà không nói, mà hộ hộ đều như thế, thực rất kì quặc.

    Triệu Phù Phong cố nén cảm giác khác lạ, bước nhanh đến cuối ngõ, hiện ra trước mắt là một mảnh đất hoang dường như đã bị lửa lớn quét qua. Y đảo một vòng trong đống tàn tích, dấu vết ngày xưa chẳng lưu lại một chút gì. Trời xanh sáng tỏ, tất thảy chung quanh đều hóa thành ảo ảnh, Triệu Phù Phong vươn tay gọi khẽ:

    “Khoái Tuyết.”

    Y chỉ nắm vào hư không, tiếng tiêu văng vẳng bên tại đột nhiên biến mất.

    Triệu Phù Phong chỉ nghe Giang Khoái Tuyết thổi tiêu đúng một lần, vào ngày xuân, khi Liên gia bị tận diệt không lâu. Giai điệu hoa lệ tự tại, biểu hiện thiếu nữ kiêu ngạo ấy có tấm lòng quảng đại. Nàng chưa tấu hết khúc, lệ đã ướt đẫm thân tiêu.

    Y ôm nàng vào lòng, đợi cho dược lực hộ tâm đang phát tán. Tịch dương trên đỉnh núi chiếu rọi tia sáng huy hoàng cuối cùng trong ngày, y vẫn ôm lấy nàng, mãi đến khi cái lạnh từ rừng sâu phủ lấy hai người, trăng non trên đỉnh đầu tựa hồ mỉm cười. Cái ôm bình yên như thế, có cả ngọt ngào lẫn bi thương, dường như chỉ một lần trong suốt cuộc đời, mà nàng vĩnh viễn không biết. Nàng đã hôn mê rất lâu, y chờ đến độ cổ họng bỏng rát, âm thầm phát thệ: Nếu nàng có thể tỉnh lại, ắt ta sẽ tận lực tìm kiếm để dã già, giải trừ độc hàn nha giam cầm nàng.

    Triệu Phù Phong đứng giữa vùng đất hoang, một lần nữa nhớ lại tình cảnh hôm đó, cách lớp y phục là một thiếu nữ mềm mại, không có hơi ấm, hương thơm thoang thoảng thuần khiết, tựa đóa sen mới nở. Thời khắc đó, nếu có thể dùng trái tim mạnh mẽ của y đổi cho nàng, y không hề tiếc. Y đứng rất lâu mới từng bước từng bước rời khỏi, hướng đến khu vực dân cư lân cận dò hỏi.

    Bên cạnh Liên phủ có một tửu quán nhỏ, hiện tại đã biến thành một hàng trà. Ngày xuân ấm áp, khiến con người cảm giác buồn ngủ, trên nét mặt chưởng quỹ và khách uống trà đều biểu lộ vẻ ủ rũ, Triệu Phù Phong đến khiến xuân vị vây khốn căn phòng bỗng hóa thành vô hình. Nam tử hào sảng, nhìn không ra niên kỉ, vỏ đao và đao đeo bên hông y đã tả tơi mà vẫn tỏa sáng. Chưởng quỹ Nhị Phúc bước tới hỏi:

    “Khách quan cần gì ạ?”

    “Tùy tiện.”, Triệu Phù Phong nói, “Tử Quy Cư kế bên … vì sao phát lửa? Chuyện về sau thế nào?”

    Y hỏi quá đột ngột, Nhị Phúc trơ ra một hồi mới phản ứng:

    “A, để tôi nghĩ, cũng mười một năm rồi,”

    Hắn gập ngón tay đếm, nói tiếp:

    “Là chuyện xảy ra vào Gia Thái Nguyên niên. Lửa do ngự sử đài Bảo Liên Sơn khơi lên, lửa bị gió thổi, thiêu đốt hơn mười dặm, bầu trời đỏ rực, hơn năm vạn hộ dân bị thiêu thành bình địa. Tôi sống trên thuyền hết một năm, đến khi nhà cửa được tu bổ lại mới dọn về.”

    Triệu Phù Phong đứng bật dậy, lại từ từ ngồi xuống:

    “Chưởng quỹ biết người của Liên gia thế nào rồi không? Tại sao không trở về?”

    Nhị Phúc xoa tay, hạ thấp giọng:

    “Hai mươi năm trước, Liên gia xảy ra thảm họa, mười mấy nhân khẩu chỉ trong đêm chết không còn một ai, ở cửa nhà tôi vẫn nghe được mùi máu tanh. Về sau tiểu thư Liên gia được gả cho người, tòa nhà bỏ hoang từ đó. Tai họa hỏa hoạn qua đi, cũng không ai dám xây nhà trên mảnh đất dữ, bỏ không tới giờ.

    Triệu Phù Phong chần chừ hỏi:

    “Ngươi nói gì? Tiểu thư Liên gia đã gả đi sao?”

    “Phải rồi, gả cho chủ nhân Kiếm Hoa Đường.”

    Triệu Phù Phong vừa vào Kim quốc đã nghe nói về danh tiếng Kiếm Hoa Đường, lãnh tụ Giang Nam bạch đạo, so với võ lâm phương bắc quần long vô thủ, rất có sức ảnh hưởng. Y nghĩ: Phương Giai mộc là người đạm bạc như thế, sáng tạo cơ nghiệp tất nhiên là … y buồn bả thốt:

    “Từ Huy Dạ.”

    Nhị Phúc gật đầu:

    “Chính là Từ gia.”

    Triệu Phù Phong đặt một mẩu bạc vụn lên bàn, đi thẳng ra cửa. Nhị Phúc buồn bực, không ăn uống thì trả tiền gì chứ, bèn đuổi theo gọi:

    “Khách quan này …”

    Triệu Phù Phong quay đầu nhìn hắn:

    “Chưởng quỹ này, đa tạ.”

    Nhị Phúc ngẩn ngơ nhìn y bỏ đi xa, đột nhiên nhớ đến hai mươi năm trước, trong đêm Liên gia phát sinh biến cố, có một thiếu niên cũng quay đầu nhìn hắn như thế, còn nói:

    “Chưởng quỹ, ban đêm đừng buôn bán, đóng cửa sớm một chút.”

    Ánh mắt trong suốt đó, hắn không thể nhớ nhầm.

    Trong Dung Hòa phường, Kiếm Hoa Đường nằm dưới chân Quá Phế Lĩnh, vốn là nơi những người trẻ tuổi mê võ công gặp gỡ nhau, chỉ bốn năm gian nhà cỏ thôi, bây giờ đã là một đại phái nguy nga. Kiến trúc dựa núi trông rất khí thế, tường trát ngói đen, thạch sư giương nanh, đứng trước đại môn đỏ sẫm là hai kiếm sĩ thanh y.

    Triệu Phù Phong sải bước lên bậc tam cấp, một gã kiếm sĩ giơ tay ngăn cản:

    “Muốn làm gì?”

    “Ta muốn gặp …”, Triệu Phù Phong nén lại hai chữ “Khoái Tuyết”, sửa miệng đổi thành, “đường chủ phu nhân của các ngươi.”

    “Gặp đường chủ phu nhân hả?”, kiếm sĩ ngạc nhiên, nghi ngờ, nhìn dò xét bộ dạng rách rưới của Triệu Phù Phong.

    Tiếng vó sắc sảo, có người phóng ngựa lên thềm, Triệu Phù Phong hơi nghiêng người, hai bóng dáng một đen một trắng lước qua tầm mắt, người ngồi đầu cầm roi san hô múa như lưu tinh, ngựa phi nhanh kinh nhân. Ngựa vượt qua ngưỡng cửa thì dừng lại, người trên ngựa quay đầu hỏi:

    “Ai muốn gặp phu nhân?”

    Thì ra là một thanh niên hai mươi bảy, hai mươi tám tuổi, thân mặc hắc ý, thanh tú sáng sủa.

    “Nhờ báo với phu nhân các vị, cố nhân Triệu Phù Phong đến thăm.”

    Thiếu niên đứng sau đang tháo cương ngựa, kinh ngạc thốt:

    “Ôi, ngươi tên Triệu Phù Phong à?”

    Thiếu niên mặc trường sam trắng, đai lưng tê giác, búi tóc bằng ngọc, phong tư tuấn tú, mi mắt rất giống Từ Huy Dạ.

    “A!”, hắc y thanh niên phấn khởi nhảy xuống ngựa, phóng qua kéo tay Triệu Phù Phong, “Phù Phong ca, huynh về thật rồi, đệ nhận không ra huynh! Ôi, huynh không nhớ đệ sao? Đệ là Thanh Nguyễn.”

    Triệu Phù Phong bị Liên Thanh Nguyễn lôi kéo, băng qua trùng trùng sân viện. Thiếu niên nọ theo ngay phía sau, không ngừng nhìn dò xét Triệu Phù Phong, ánh mắt trong sáng, tuyệt không khiến người chán ghét. Thân thể Triệu Phù Phong vừa nóng vừa lạnh, nghĩ: Nàng có con lớn thế này rồi sao! Lẽ nào độc hàn nha đã được giải? Lẽ nào đi vạn dặm đường tìm giải dược cho nàng, kì thực chỉ là uổng phí?

    Đến hậu đình dưới lầu chính, Liên Thanh Nguyễn reo lên:

    “A tỉ, a tỉ, tỉ xem là ai đây?”

    Rèm châu trên lầu được vén nhẹ, một nữ tử hơn ba mươi tuổi bước ra, nắm lan can hướng xuống cười nói:

    “Cái tên Thanh Nguyễn hấp tấp này …”

    Nàng nói giữa chừng đột nhiên ngừng lại, nắm tay trên lan can siết đến nổi gân xanh, từ trên lầu nhảy xuống. Xiêm váy lộng lẫy tung hoành trong gió xuân, tựa một ngọn hoa đăng đang nở rộ.

    Triệu Phù Phong thốt lên tiếng gọi “Tú Nhân”, nét mặt rạng rỡ, ngước nhìn rèm châu trên lầu đang lay động, hỏi:

    “Khoái Tuyết đâu? Khoái Tuyết đang ở trong đó sao?”

    Không nghe trả lời, y quay đầu thấy Tú Nhân đang trừng trừng nhìn mình, ánh mắt mông lung. Triệu Phù Phong nhịn không được, nôn nóng hỏi:

    “Khoái Tuyết không chịu gặp ta sao?”

    “Ngươi không gặp được tiểu thư đâu.”, Liên Tú Nhân gắt gao đáp, “Thể trạng tiểu thư, ngươi cũng không phải không biết, lại nhẫn tâm vứt bỏ nàng ở lại, đi tìm thứ gì đó. Ngươi vừa đi không lâu, tiểu thư đã bệnh triền miên, không xuống giường nổi, kéo dài cả mùa thu … Ta còn nhớ hôm đó là ngày mười hai tháng chín, tiểu thư vừa ăn chén cháo, tinh thần cũng tốt lên, sai ta chuyển trường kỉ ra vườn, tiểu thư muốn hít thở khí trời.”

    Liên Tú Nhân nghẹn ngào:

    “Lúc đó tiểu thư đã gầy trơ xương, được cả sân hoa cúc bao phủ, trông càng đáng thương. Tiểu thư nằm rất lâu, ta tưởng rằng nàng đang ngủ, muốn đưa nàng về phòng. Nàng đột nhiên mở mắt nhìn ta nói, Tú Nhân, tận tâm tận lực trông đợi một người, ta cảm giác mình thật trống rỗng. Nếu lúc đầu ta khẩn cầu y ở lại, y sẽ đáp ứng lời ta chứ?”

    Đôi mắt Liên Tú Nhân đã ngấn lệ, thiếu niên bên cạnh lúng túng tay chân, dùng tay áo lau nước mắt cho nàng, nhẹ nhàng an ủi:

    “Mẫu thân, đừng khóc mà.”

    Khóe miệng Liên Tú Nhân khẽ nhếch lên, muốn cười mà không cười nổi, tiếp tục nói:

    “Tiểu thư kiêu ngạo như thế, lại chịu nói ra những lời đó. Ngươi nghĩ xem nàng khổ sở đến độ nào. Nói xong, nàng không mở miệng nữa. Nửa đêm hôm ấy, ta mang chăn đến cho tiểu thư, phát hiện toàn thân nàng lạnh thấu tâm cốt. Ta dùng mọi biện pháp vẫn không thuyên giảm.”

    Nàng hung hăn trừng mắt với Triệu Phù Phong:

    “Ngươi, ngươi không gặp được nữa rồi.”

    Bi ai tựa sóng lớn cuồn cuộn tận đáy lòng Triệu Phù Phong, dâng lên lồng ngực. Cả nửa ngày y không nói được lời nào, cuối cùng chỉ thốt được một câu:

    “Đa tạ nàng chiếu cố nàng ấy, chăm sóc nàng ấy.”

    “Phụng sự tiểu thư vốn là bổn phận của ta.”, Liên Tú Nhân dừng một chút, “Mộ tiểu thư nằm ở Bảo Thạch Sơn, ngươi tự đến báo với nàng đi, người nàng đợi đã về rồi.”

    Triệu Phù Phong trầm mặc rất lâu, lên tiếng:

    “Ta đến gặp nàng.”

    Vừa cất bước, y mới cảm giác xương cốt tứ chi đều đau nhói, thân thể loạng choạng, không quay đầu mà đi thẳng.

    Liên Tú Nhân gọi theo:

    “Sớm biết hôm nay, ban đầu hà tất …”

    Từ Cẩm Chi nắm tay mẫu thân an ủi, rồi cùng Liên Thanh Nguyễn đuổi theo. Triệu Phù Phong không đợi họ, càng đi càng nhanh, sau cùng đã chạy như điên loạn. Từ Cẩm Chi chưa từng thấy khinh công như vậy, người như mũi tên bắn giữa không trung, xuyên qua những dãy ngói đen, chớp mắt đã chẳng thấy người đâu.

    Liên Thanh Nguyễn đứng ở Quán Phế Lĩnh, trông lại đô thành rộng lớn, chỉ thấy tình cảnh nó có thâm sâu bi lụy đến dường nào, cũng không thể rung chuyển đất trời, nhất thời tâm trạng buồn bả.

    Triệu Phù Phong tìm đến mộ phần Liên thị trên Bảo Thạch Sơn. Bóng tùng chậm rãi phủ lên tấm bia, chỉ còn tia nắng chiều rọi nghiêng nghiêng bên mộ bia. Y tìm kiếm trong rừng mộ bia, tìm được một phiến đá trắng, mấy chữ “Giang Khoái Tuyết” đập vào mắt. Y quỳ phục xuống ôm lấy mộ bia của nàng, ôm mãi đến khi thân thể ướt đẫm mồ hôi, bắt đầu cảm nhận được phiến đá lạnh lẽo. Trăng quạnh quẻ, rải ánh sáng trên mặt đất.

    Triệu Phù Phong nằm trước mộ bia, không tỏ ra mệt mỏi chút nào. Gió đêm phần phật, bóng cây lay động trong gió, giống như có người đi qua, y rất hy vọng là nàng từ mộ bước ra. Mặt trời mấy bận mọc rồi lặn, y đã quên đi thời gian, thủ bên mộ nàng, tim như bị sương mù vây lấp giữa chiến trận, trong mênh mông ẩn ước âm thanh sát phạt.

    Thời gian càng xa, dung nhan của nàng dần dần trở nên mơ hồ, suy nghĩ của y cũng không còn dầy đặc. Y mang ‘để dã già’ quay về, nàng đã qua đời, tựa hồ đang ở trong ngôi nhà quen thuộc, một bước hụt chân đã rơi xuống vực thẳm. Y bỗng dưng phát hiện, thì ra tình cảm mà dứt bỏ, nhân gian chẳng còn chỗ an thân.

    Giữa trưa ngày thứ ba, ngoài rừng đột nhiên vọng tới tiếng bước chân gấp rút. Liên Thanh Nguyễn chạy đến đầu tiên, theo sau là một nam tử trung niên vóc người cao gầy. Nhìn thấy Triệu Phù Phong trước mộ Giang Khoái Tuyết, Liên Thanh Nguyễn mừng rỡ:

    “Phương đại ca, huynh đoán không sai, hai ngày rồi vẫn ở đây.”

    Triệu Phù Phong không còn là thiếu niên sáng láng thuở đầu. Phương Giai Mộc vẫn nhìn qua là nhận ra ngay. Y nắm cổ áo Triệu Phù Phong, một chưởng tát thẳng mặt y, quát:

    “A Phong, người đã chết rồi, ngươi làm ra bộ dạng này để ai xem đây?”

    Triệu Phù Phong lắc đầu, nhìn rõ người trước mặt, hoảng hốt hỏi:

    “Huynh bảo ai chết?”

    Y trừng mắt với Phương Giai Mộc, hai người đối diện rất lâu. Triệu Phù Phong trông thấy hình ảnh mình dần dần hiện ra trong đồng tử Phương Giai Mộc, trái tim đột nhiên đau thắt, thống khổ như bị đao cứa vào. Triệu Phù Phong rủ đầu, thốt:

    “Huynh nói không sai, nàng … đã chết rồi, bất luận ta ở cạnh nàng bao lâu, đều không vãn hồi được.”

    Y không để ý đến Phương Giai Mộc nữa, từng bước từng bước rời khu rừng. Hai ngày không ăn uống, bước chân Triệu Phù Phong nhẹ hẫng, bước đi không hề quay đầu.

    Phương Giai Mộc muốn đuổi theo, chợt nghe Liên Thanh Nguyễn hỏi:

    “Phương đại ca, huynh xem đây là ý gì?”

    Hắn quay đầu nhìn mộ bia Giang Khoái Tuyết, có mấy chữ mới được khắc vào, chỉ lực sâu đến ba phân, mỗi nét rướm máu, thực sự trông thấy mà kinh ngạc, đọc lên từng chữ:

    “Bi kết sinh tật, một mệnh hoàng lư.

    Mệnh chi bất tạo, oan như chi hà!

    Vũ tộc chi trường, danh vi phượng hoàng.

    Nhất nhật thất hùng, tam niên cảm thương.

    Tuy hữu chúng điểu, bất vi thất song.

    Cố kiến bỉ tư, phùng quân huy quang.

    Thân viễn tâm cận, hà đương tạm vong.”

    Phương Giai Mộc dụi mắt, trầm giọng giải thích:

    “Đây là bài Tiểu nữ nhi Tử Ngọc xướng của Ngô Vương Phù Sai. Ngày xưa Tử Ngọc ái mộ Hàn Trọng, Ngô Vương không ưng thuận, Tử Ngọc uất ức mà chết. Hàn Trọng đến mộ Tử Ngọc viếng, hồn Tử Ngọc xướng lên khúc ca này, còn mời Hàn Trọng vào mộ ba ngày ba đêm, thành lễ phu phụ.”

    Liên Thanh Nguyễn hít hơi sâu:

    “Đệ biết ý tứ của Phù Phong ca, y hi vọng tiểu thư giống Tử Ngọc, mời y vào mộ.”

    Phương Giai Mộc chua xót trong lòng, lắc đầu:

    “Hồ đồ.”

    Hai người đuổi theo Triệu Phù Phong, thấy y thần thái như gỗ, mơ hồ chẳng biết đi đông tây nam bắc. Phương Giai Mộc nâng đỡ y:

    “Thanh Nguyễn, chúng ta đưa hắn về.”

    Thế là hai người không nói năng, đưa y về một tòa tiểu viện bên Tây Hồ. Cuối cùng Triệu Phù Phong đã động dung, nhìn chằm chằm những ròng rọc và đá mài trong viện, khẽ thốt:

    “Kiếm Hoa Xã.”

    Phương Giai Mộc vỗ vai y, cao hứng nói:

    “Ngươi còn nhớ câu chuyện kết xã của chúng ta à, ta chuyển sang nguyên dạng đó.”

    Vài gian nhà cỏ đơn sơ, gió lùa mang theo không khí thanh mát của khu rừng, tiếng én rì rầm, kiếm treo trên vách cũng đóng bụi dầy. Phương Giai Mộc múc một chén cháo, đưa cho Triệu Phù Phong, nói:

    “Huy Dạ thích náo nhiệt, ta thích đạm bạc. Nếu y có Kiếm Hoa Đường, ta có Kiếm Hoa Xã, để những lão bằng hữu có nơi dừng chân. Tháng trước họ giống trống khua chiêng đến Quế Lâm, may ta không đi, bằng không đã bỏ qua ngươi rồi. Khà, ta trông râu ria ngươi thật không thuận mắt.”

    Y tìm một con dao nhỏ, múa vài đường đã cắt gọn bộ râu của Triệu Phù Phong, để lộ gương mặt xanh xao tiều tụy.

    Liên Thanh Nguyễn đứng bên cạnh, xem thấy hứng thú, cười nói:

    “Phương đại ca, huynh dùng thủ pháp Tích Hoa kiếm cạo râu, thực là sắt bén dứt khoát, chẳng lưu dấu vết.”

    Phương Giai Mộc cũng cười theo:

    “Vậy à? A Nguyễn ngươi nhàn rỗi quá, đi đi, xuống bếp mang nước nóng lên, xú nhân này cũng nên tắm rửa rồi.”

    Hai người chân tay bận rộn, quyết tẩy rửa Triệu Phù Phong đến độ tinh tươm sạch sẽ.

    Triệu Phù Phong để mặt bọn họ an bài, đến khi cả hai hứng trí muốn tắm dùm y, mới chịu lên tiếng:

    “Mộc đầu, Thanh Nguyễn, hai bà cô các người muốn làm gì đây?”

    Phương Giai Mộc dừng lại, cười:

    “Đúng rồi, đây mới là A Phong ta quen chứ, trời sập lấy làm mền.”

    Nói rồi y kéo Liên Thanh Nguyễn đi ra ngoài, thì thầm:

    “Cái bộ dạng thất hồn lạc phách kia, con mẹ nó, ta thực nhìn không quen mắt.”

    Trong làn hơi nước mù mịt, mắt Triệu Phù Phong ướt đẫm. Y đưa tay xoa mặt, không phân biệt rõ là nước hay nước mắt. Nghĩ người yêu thương hết dạ đã biến thành khô cốt, không còn khả năng cười nói cùng nàng, cuộc đời hoang liêu sau này phải an bài thế nào, nước mắt y cuối cùng đã rơi.

    Nghe xoạt một tiếng, nóc nhà bị thủng một lỗ to, bốn kẻ che mặt xông vào. Ba thanh đao bao vây Triệu Phù Phong trong bồn nước, phong kín mọi góc độ phản kích của y, kẻ còn lại lật qua giở lại đống y phục vừa cởi ra của Triệu Phù Phong, tìm thấy một bình nhỏ bằng men xanh, mở ra xem thử, hai mắt sáng rực. Cất tràng cười lớn, hắn phóng người lên định rút lui.

    Không lỡ thời cơ, Triệu Phù Phong vươn tay chộp lấy cổ tay phải một tên. Động tác y không hoa mỹ, bình thản như nâng chung uống trà. Kẻ đó hoa mắt, cổ tay đau không chịu thấu, đao trong tay đã trượt qua tay Triệu Phù Phong. Đao vừa đổi chủ, bốn kẻ bịt mặt đều rùng mình, cảm giác đao khí sát nhân cuồn cuộn dâng lên, tựa bão tuyết mùa đông, đâm thẳng tròng mắt, chấn vỡ phế phủ.

    Thân hình Triệu Phù Phong bốc lên như cơn lốc, cương đao chém trúng hông kẻ thứ nhất, lướt qua ngực kẻ thứ hai, cắt vào cổ kẻ thứ ba, đao thế liên tục không ngừng. Trung tâm cơn lốc, đao quang lóa mắt, lăng lệ vô bì, xuyên qua nóc nhà công kích mạn sườn kẻ thứ tư. Bình thuốc liền rơi xuống, Triệu Phù Phong nhẹ nhàng đón lấy, nắm trong lòng bàn tay.

    Bốn kẻ bịt mặt không kịp phản ứng, đã la liệt dưới đất, kinh hãi nhìn nam tử trước mặt. Dương quang phủ trên da thịt thô ráp của y, trên những giọt nước trong suốt, tỏa sáng lấp lánh, cơ thể gầy gò mà sức lực không ngờ. Bi thương và tuyệt vọng khiến Triệu Phù Phong quên mất giới điều của Thần Đao Môn. Quỹ đạo cong kinh ngạc, phóng túng sức mạnh, một đao hơn người này của y đã đạt đến cực hạn. Đao tầm thường trong tay y cũng trở thành thần khí.

    Một tên bị thương nhẹ, lấy lại tinh thần, phóng mình qua cửa sổ tẩu thoát, bị Liên Thanh Nguyễn bắt lại. Hắn ẩn nấp ở song cửa, kinh ngạc tán thưởng:

    “Phương đại ca nói một mình huynh lo liệu được, ban đầu đệ còn không tin.”

    Phương Giai Mộc cười nói:

    “Ta biết ngươi không cần bọn ta viện trợ, nhưng không ngờ ngươi tiến bộ bất ngờ như thế.”

    Triệu Phù Phong lắc đầu đáp:

    “Vừa rồi xuất thủ, sức mạnh đó không nằm trong khống chế của ta, như vầy thật không hay.”

    Y cúi xuống, nhấc một tấm khăn bịt mặt lên, gương mặt hoàn toàn xa lạ. Y hỏi:

    “Các ngươi làm sao biết ta mang theo để dã già? Tại sao các ngươi muốn cướp nó?”

    Kẻ đó cười lạnh:

    “Môn hạ Thần Đao Môn, quả nhiên không giết người, đáng tiếc giữ bọn ta cũng chẳng hỏi được gì.”

    Gã rạch tay lên vết thương ở cổ, máu tuôn như suối, tức thì tuyệt khí. Ba kẻ còn lại đều cầm đao, cùng lúc tự vẫn. Triệu Phù Phong nghẹn thắt lồng ngực, không ngờ thế gian có kẻ xem nhẹ sinh mạng đến vậy, quyết tìm đường chết.

    Phương Giai Mộc kiểm tra toàn thân chúng, thở dài:

    “Chẳng để lại dấu hiệu gì, phần lớn chính là bang phái hắc đạo.”

    Liên Thanh Nguyễn nói:

    “Để dã già là thánh dược giải độc, có thể giải được kì độc như hàn nha, lưu tô, có người thèm muốn cũng không lạ. Kì lạ là, chuyện năm xưa Phù Phong ca lên đường tìm thuốc chỉ có mấy người biết, vừa mới về chưa đến ba ngày, làm sao có kẻ bô bô mò đến cửa rồi?”

    Phương Giai Mộc nhận xét:

    “Cái này khó nói, trên giang hồ có rất nhiều cặp mắt dòm ngó Kiếm Hoa Đường các ngươi, bất kể chuyện lớn chuyện nhỏ, qua một ngày đã truyền đi khá xa. Cả ta vốn không màng thế sự, hôm qua cũng ngồi trong tiệm trà nghe được có người đến Kiếm Hoa Đường, được Cẩm Chi thiếu gia và công tử Thanh Nguyễn ngươi đích thân nghênh đón, dẫn vào trong nhà. Còn có lời đồn buồn cười hơn, bảo A Phong là tình nhân cũ của đường chủ phu nhân. Huy Dạ và Tú Nhân vợ chồng tình thâm, không ngờ cũng truyền ra lời đồn nhảm nhí.”

    Y nói câu này, vốn đã điều tiết khẩu khí, sợ Triệu Phù Phong đang tâm sự trùng trùng, khổ sở nhịn cười, so với gương mặt khi mếu còn khó coi hơi. Liên Thanh Nguyễn cười lạnh:

    “Chưa chắc đã vậy. A tỉ gần đây nghi ngờ đường chủ có ngoại thất, nhưng không tiện nói, dặn dò đệ lưu ý. Phương đại ca, đệ biết đường chủ và huynh là sinh tử chi giao, huynh không cần thanh minh cho y, đệ đã nghi ngờ rồi.”

    Phương Giai Mộc kiên trì đáp:

    “Ta biết Huy Dạ, hắn nhất định không phải hạng người đó.”

    Đêm đó ba người kê ghế nằm ngủ, không trò chuyện nhiều. Nóc nhà bị thủng, nhìn thấu bầu trời cao vợi, sao đêm nơi thôn dã thật sáng. Nếu không phải có người chết, đây chính là buổi trùng phùng hoan hỉ.



    CHƯƠNG TRƯỚC CHƯƠN
     

Ủng hộ diễn đàn